Menu Đóng

PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC CỦA CÁN BỘ CƠ SỞ HỘI

PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC CỦA CÁN BỘ CƠ SỞ HỘI

I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC

1. Khái niệm

Phương pháp công tác là cách thức, quy trình tiến hành một công việc cụ thể của một tổ chức, một cá nhân nhằm đạt được mục đích đã định.

2. Vai trò của phương pháp công tác

Phương pháp công tác có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ công tác.

– Khi đã có phương hướng, mục tiêu đúng thì phương pháp công tác giữ vai trò quyết định sự thắng lợi của công việc.

– Phương pháp công tác của một tổ chức, một cá nhân có ảnh hưởng đến sự thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ.

Trong thực tế, phong trào của một cấp Hội tốt hay không phần lớn phụ thuộc vào phương pháp công tác của tổ chức, của cán bộ Hội cấp đó.

Trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng”, đồng chí Lê Duẩn viết:

Kinh nghiệm cho thấy: phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương hướng, mục tiêu mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách mạng(1).

Vì vậy, người cán bộ làm công tác vận động quần chúng, như cán bộ Hội Nông dân phải thường xuyên nghiên cứu, tìm tòi, áp dụng những phương pháp công tác hiệu quả nhất để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cán bộ chủ chốt của Hội Nông dân cơ sở, các đồng chí là Chủ tịch, Phó chủ tịch và các đồng chí trong Ban Thường vụ, khi thực hiện nhiệm vụ công tác Hội phải với tư cách đại diện cho tổ chức Hội Nông dân cơ sở để làm việc.

Bác Hồ đã dạy: “Bất cứ việc to, việc nhỏ chúng ta phải xác định rõ và làm cho hợp trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm đấu tranh, lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực... của quần chúng. Do đó mà định cách làm, cách tổ chức. Có như thế mới kéo được quần chúng(2). “Cán bộ nông vận phải tránh bệnh quan liêu, hình thức, giấy tờ... phải chân đi, mắt thấy, tai nghe, miệng nói, tay làm, óc suy nghĩ(3).

II. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁC BƯỚC CÔNG TÁC CƠ BẢN CỦA CÁN BỘ HỘI NÔNG DÂN CƠ SỞ

1. Phương pháp công tác

1.1. Tham mưu cho cấp ủy và Hội cấp trên

1.1.1. Sự cần thiết phải tham mưu

– Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo, đại diện cho giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng và Nhà nước; chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nông dân. Chỉ thị 59 CT/TW ngày 15/12/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ: “… Hội phải nắm chắc tình hình nông nghiệp, nông thôn, tâm tư, nguyện vọng của nông dân; chủ động và có chính kiến đề xuất với cấp uỷ, chính quyền những chủ trương, biện pháp đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của nông dân. Hội Nông dân phải là thành viên tích cực của các chương trình về kinh tế – xã hội nông thôn…, tham gia vào việc hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nông thôn…”.

– Tham mưu nhằm giúp cấp ủy Đảng tổ chức quán triệt sâu sắc quan điểm vận động quần chúng của Đảng sát với thực tế cơ sở để lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên hoạt động của phong trào nông dân, phấn đấu cho mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

– Nhằm giúp cấp ủy Đảng đưa ra chủ trương, kế hoạch, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương phù hợp với chính sách của Đảng, Nhà nước, phù hợp với thực tiễn đang đặt ra và đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nông dân.

– Để có các hình thức, biện pháp linh hoạt, sáng tạo, điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tiễn và nguyện vọng của cán bộ, hội viên, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân.

1.1.2. Nội dung tham mưu

Tham mưu cho cấp ủy Đảng và Hội cấp trên thực hiện tốt quan điểm, chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác Hội và Nghị quyết chuyên đề về công tác Hội.

Có chương trình, kế hoạch chỉ đạo các Ban, ngành, đoàn thể tạo điều kiện, phối hợp chặt chẽ với Hội Nông dân để thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và để Hội thực sự giữ vai trò là trung tâm và nòng cốt trong các phong trào hành động cách mạng của nông dân xây dựng nông thôn mới, đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Phân công nhiệm vụ cho đảng viên tham gia sinh hoạt trong tổ chức Hội Nông dân (thực hiện Chỉ thị 59 CT/TW của Bộ Chính trị: “Đảng viên ở nông thôn có trách nhiệm tham gia sinh hoạt trong tổ chức Hội Nông dân…”); đưa nội dung xây dựng Hội Nông dân cơ sở vững mạnh là một trong những tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên, cán bộ và tổ chức Đảng ở cơ sở.

Tham mưu cho cấp Uỷ đảng chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở Hội có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực làm việc (cả với cán bộ đương nhiệm và cán bộ kế cận, cán bộ nguồn trong quy hoạch).

1.1.3. Phương pháp tham mưu

– Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở có kế hoạch làm việc định kỳ với cấp ủy Đảng 3 tháng hoặc 6 tháng một lần. Cần chuẩn bị kỹ nội dung báo cáo về tình hình và kết quả công tác xây dựng Hội, phong trào nông dân, những mặt đã làm được, mặt chưa làm được, nguyên nhân, đề xuất, kiến nghị những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới và xin ý kiến chỉ đạo.

– Trân trọng lắng nghe ý kiến đánh giá của cấp ủy Đảng về công tác Hội và phong trào nông dân; thường xuyên liên hệ, tranh thủ ý kiến của đội ngũ cấp ủy phụ trách đoàn thể và các ngành liên quan để nhận sự giúp đỡ, tạo được sự đồng tình, ủng hộ cao.

– Khi làm việc với cấp uỷ Đảng, cán bộ Hội phải chủ động, kiên trì thuyết phục.

1.2. Phối hợp với chính quyền và các ngành, đoàn thể

1.2.1. Sự cần thiết phải phối hợp với chính quyền và các ngành, đoàn thể

– Hội Nông dân là một tổ chức chính trị – xã hội, là một thành viên trong hệ thống chính trị (bao gồm Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng), Hội có 3 chức năng và 5 nhiệm vụ đã được quy định cụ thể trong Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam. Muốn thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ ấy, nhất thiết Hội phải có sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền và các ngành, đoàn thể; không có sự phối hợp thì không thể thực hiện được các chức năng, nhiệm vụ của Hội.

– Mọi hoạt động của Hội và phong trào nông dân đều diễn ra ở cơ sở. Hội Nông dân có vai trò trung tâm và nòng cốt trong các phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, do đó cán bộ cơ sở Hội phải chủ động và tích cực trong sự phối hợp.

1.2.2. Nội dung cần phối hợp

– Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và cán bộ chủ chốt cơ sở Hội cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của Hội, các Nghị quyết, Chỉ thị hướng dẫn của Hội cấp trên; căn cứ vào chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ của cấp uỷ Đảng, chính quyền đề ra trong từng thời gian và căn cứ vào chức năng của từng ngành, đoàn thể mà định ra nội dung phối hợp.

– Cùng với chính quyền cơ sở thể chế hóa các quan điểm, chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng về công tác Hội và phong trào nông dân để phát huy vai trò của tổ chức Hội.

– Cán bộ cơ sở Hội cần nắm chắc nội dung mục (3) của Chỉ thị 59 CT/TW ngày 15/12/2000 của Bộ chính trị và nội dung Quyết định 17/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định “về trách nhiệm của các bộ, các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân hoạt động có hiệu quả” (gồm 8 điều) để cụ thể hóa nội dung phối hợp với chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương.

1.2.3. Phương pháp phối hợp

– Cán bộ cơ sở Hội cần nghiên cứu, hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, đoàn thể, trên cơ sở đó đề xuất với tổ chức Hội chương trình phối hợp với ngành, đoàn thể đó.

– Cần phát huy vai trò, trách nhiệm của các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành cơ cấu ở các ngành, đoàn thể.

– Khi phối hợp với chính quyền, các ngành, đoàn thể, cán bộ Hội cần chủ động tích cực trao đổi để có sự thống nhất trong việc phối hợp công tác.

1.3. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện

1.3.1. Kế hoạch công tác

Bất cứ một công việc gì, muốn tiến hành đạt kết quả tốt, ngoài việc nắm vững yêu cầu, nội dung, người cán bộ cần biết cách lập kế hoạch công tác và biết cách chỉ đạo, thực hiện theo quy chế đã đề ra.

* Lập kế hoạch công tác

– Phải căn cứ vào nhiệm vụ công tác Hội và điều kiện thực tế cơ sở Hội để lập kế hoạch công tác cho sát hợp.

– Có 2 loại:

+ Kế hoạch công tác tuần, tháng, quý, 6 tháng, một năm, một nhiệm kỳ.

+ Kế hoạch từng chuyên đề, dự án.

– Cách lập một kế hoạch cụ thể:

+ Tiêu đề (tên gọi) kế hoạch.

+ Mục tiêu của kế hoạch.

+ Phạm vi, thời gian, đối tượng của kế hoạch.

+ Các nội dung kế hoạch.

+ Biện pháp thực hiện.

+ Dự trù kinh phí cho những hoạt động lớn.

+ Kiểm tra, đánh giá.

– Lưu ý: Khi lập kế hoạch công tác cần đảm bảo tính trình tự, tính cụ thể, tính khách quan và tính khả thi.

1.3.2. Chỉ đạo phong trào chung

– Là sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở đối với toàn bộ công tác Hội được cấp uỷ Đảng và Hội cấp trên giao cho. Trong đó, các cán bộ chủ chốt của cơ sở Hội giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các phong trào của Hội.

– Muốn lãnh đạo, chỉ đạo được phong trào chung, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ và cán bộ chủ chốt cơ sở Hội phải nắm vững chủ trương, đường lối, Nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong thời kỳ đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội. Đặc biệt là những vấn đề liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn; nắm chắc chức năng, nhiệm vụ của Hội, các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương công tác của Hội cấp trên. Phải đổi mới nội dung, phương thức, đa dạng loại hình hoạt động và hình thức vận động, tập hợp hội viên, nông dân với phương châm: “Thiết thực, hiệu quảđảm bảo cho các phong trào nông dân (tập trung vào 3 phong trào do Hội phát động) phát triển vững chắc cả chiều rộng và chiều sâu.

– Phải xây dựng được kế hoạch công tác tháng, quý, 6 tháng, một năm, một nhiệm kỳ. Dân chủ bàn bạc, đi đến nhất trí lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện; biết chọn việc trọng tâm để ưu tiên, biết lồng ghép các hoạt động phù hợp để đạt kết quả cao nhất.

– Lãnh đạo, chỉ đạo phong trào chung, phải đảm bảo chấp hành nghiêm túc quy chế làm việc, thường xuyên nắm bắt thông tin 2 chiều, xử lý thông tin nhanh, chính xác, trung thực, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc diễn ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

1.3.3. Chỉ đạo điểm

Chỉ đạo điểm là việc làm đi trước, làm mẫu ở một hoặc một số điểm nhất định để rút kinh nghiệm cho chỉ đạo chung.

Để chỉ đạo điểm có kết quả, cần phải:

– Họp Ban Thường vụ bàn bạc thống nhất về chương trình, kế hoạch chỉ đạo điểm.

+ Chọn điểm chỉ đạo phải đại diện cho khu vực (thôn, ấp, bản, làng) xã và điểm chỉ đạo không quá thuận lợi cũng không quá khó khăn để có điều kiện thực hiện nội dung chỉ đạo, rút kinh nghiệm, nhân ra diện rộng.

+ Khi tiến hành phải khảo sát nắm chắc tình hình hiện trạng về phong trào, về cơ sở vật chất, kỹ thuật, nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ… Trên cơ sở đó lập chương trình, kế hoạch chỉ đạo.

+ Phân công cán bộ chỉ đạo: Phải có năng lực chỉ đạo, tinh thần trách nhiệm, quan điểm quần chúng và có kinh nghiệm thực tế phong trào.

– Ban Thường vụ, Thường trực cơ sở Hội phải thường xuyên quan tâm đến điểm chỉ đạo, không được “khoán trắng” cho cán bộ chỉ đạo.

– Sau mỗi đợt chỉ đạo cần có sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, bổ khuyết kịp thời để nhân ra diện rộng.

1.3.4. Phương pháp đi cơ sở (các chi hội, tổ hội)

– Sự cần thiết phải đến các chi hội, tổ hội:

+ Các chi hội, tổ hội được xác định là đơn vị hành động, là nơi trực tiếp tổ chức vận động hội viên, nông dân thực hiện chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị, công tác của cấp ủy Đảng, chính quyền và của Hội.

+ Các chi hội, tổ hội ở các thôn (ấp, bản, làng) mạnh thì cơ sở Hội mới mạnh.

+ Đi đến và làm việc với các chi hội, tổ hội là một yêu cầu tất yếu đối với cán bộ cơ sở Hội, thể hiện sự sâu sát thực tiễn, tránh bệnh quan liêu; phát hiện kịp thời những vấn đề cần tập trung giải quyết trong công tác Hội và phong trào nông dân.

– Nội dung cần làm khi xuống các chi hội, tổ hội:

+ Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân mà Ban Chấp hành cơ sở Hội đã chỉ đạo.

+ Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chi hội, tổ hội, giúp họ quán triệt được nhiệm vụ của Hội trong từng thời gian; biết lập chương trình, kế hoạch công tác; biết cách triển khai công việc chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ trong phạm vi chức năng của Hội; biết tranh thủ sự lãnh đạo của Chi uỷ, tổ Đảng; biết cách kết hợp với các ngành, đoàn thể; biết nắm bắt nhiệm vụ trọng tâm (của cấp uỷ Đảng và của Hội) để tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

+ Giúp cán bộ chi hội, tổ hội biết cách tập hợp tình hình phong trào, thông qua đó mà nắm chắc mặt mạnh, mặt yếu của phong trào để có biện pháp chỉ đạo tiếp. Mặt khác phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hoặc đột xuất lên Ban Chấp hành Hội Nông dân cơ sở về diễn biến của phong trào, về tâm tư, nguyện vọng, khó khăn, bức xúc của hội viên, nông dân và đề xuất, kiến nghị với cấp trên giải quyết.

+ Tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình công tác Hội tới hội viên, nông dân.

+ Giúp chi hội, tổ hội phát huy tính chủ động, sáng tạo, tìm nguồn và tạo nguồn kinh phí để hoạt động.

+ Giúp chi hội, tổ hội biết sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và đề nghị cấp trên động viên, khen thưởng kịp thời.

– Phương pháp đi cơ sở (đến các chi hội, tổ hội):

+ Phải lập kế hoạch toàn bộ đợt đi công tác đến các chi hội, tổ hội.

+ Thông báo nội dung làm việc và thời gian xuống làm việc.

+ Nghe cán bộ chi hội, tổ hội báo cáo tình hình, có ý kiến chỉ đạo và biểu dương kết quả đã đạt được.

+ Cần dành nhiều thời gian tiếp xúc, lắng nghe ý kiến và đối thoại trực tiếp với hội viên, nông dân.

+ Để làm việc đạt kết quả tốt, cán bộ cơ sở Hội phải nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của cấp ủy Đảng, nhiệm vụ công tác Hội để cụ thể hóa nhiệm vụ cho các chi hội, tổ hội; nắm được trình độ, năng lực, hoàn cảnh, tâm tư, nguyện vọng… của từng cán bộ để có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ công tác và động viên, khen thưởng kịp thời.

+ Khi xuống làm việc với chi hội, tổ hội, cán bộ cơ sở Hội cần gặp gỡ chi uỷ sở tại để trao đổi nội dung công tác và tranh thủ ý kiến tham gia chỉ đạo, có thể mời chi uỷ cùng nghe cán bộ chi hội, tổ hội báo cáo.

2. Các bước công tác

Phương pháp công tác của người cán bộ Hội được thực hiện qua trình tự các bước công sau:

Bước 1: Điều tra – nghiên cứu.

– Điều tra là: “tìm, hỏi, xem xét để hiểu rõ sự thật1(4).

– Nghiên cứu là: “Xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề hay để rút ra những hiểu biết mới2(5).

Muốn tiến hành một công việc, trước tiên phải điều tra, nghiên cứu tình hình có liên quan tới công việc đó. Đây là một bước rất quan trọng của người cán bộ Hội, vì chỉ khi nào tìm hiểu đầy đủ, chính xác tình hình mới có quyết định xử lý công việc đúng đắn, hay chỉ đạo thực hiện công việc đạt hiệu quả cao.

– Trong công tác, cán bộ Hội thường điều tra, nghiên cứu một số nội dung cơ bản sau:

+ Tình hình chung: Số hộ, số khẩu nông nghiệp, nam, nữ, dân tộc, tôn giáo; diện tích tự nhiên, diện tích đất canh tác, bình quân diện tích canh tác/khẩu; cơ cấu cây trồng, vật nuôi hiện có; bình quân thu nhập/khẩu…

+ Tình hình nghề nghiệp: Nghề nông và các ngành nghề khác; số lao động có việc làm, chưa có việc làm.

+ Tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; phong tục, tập quán địa phương…

+ Số hộ giàu, số hộ sản xuất, kinh doanh giỏi; số hộ nghèo đói, nguyên nhân nghèo đói, Hội đã làm gì để giúp đỡ các hộ này.

+ Hội đã giúp hội viên, nông dân làm được những việc gì, những việc gì chưa làm được và định ra những công việc cụ thể sẽ làm trong thời gian tới.

+ Các khoản hiện nay hội viên, nông dân phải đóng góp.

+ Tình hình tổ chức Hội: Số lượng, chất lượng hội viên, tổ hội, chi hội, cán bộ Hội.

+ Hoạt động của Hội: Hội đã tham gia các phong trào ở địa phương như thế nào (như tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, thực hiện Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn…), thực trạng 3 phong trào do Hội phát động và chỉ đạo.

+ Tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc của hội viên, nông dân.

– Phương pháp điều tra – nghiên cứu:

+ Cán bộ cơ sở Hội phải lập chương trình, kế hoạch điều tra – nghiên cứu thật cụ thể, chi tiết.

+ Trước hết, cần nắm số liệu về tình hình cơ bản ở địa phương qua sổ sách thống kê hàng năm của Ủy ban nhân dân xã (phường, thị trấn).

+ Tiến hành đi điều tra – nghiên cứu thực tế: Phải trực tiếp gặp gỡ, thăm hỏi, trao đổi với hội viên, nông dân, quan sát việc làm, sinh hoạt hàng ngày của họ; cần chuẩn bị kỹ các câu hỏi, gợi ý để hội viên, nông dân trả lời từng vấn đề, sự việc cần tìm hiểu; khi gặp gỡ, trao đổi với hội viên, nông dân, cán bộ cơ sở Hội phải thực sự chân tình, cởi mở, khéo léo gợi ý để người nghe trả lời đúng theo nội dung cần điều tra, nghiên cứu. Hãy lựa thời điểm thích hợp để gặp gỡ, trao đổi với hội viên, nông dân cũng là một nghệ thuật cần chú ý của người cán bộ cơ sở Hội.

+ Cần tránh thái độ chủ quan, hời hợt, nôn nóng, thiếu kế hoạch trong điều tra – nghiên cứu.

+ Sau khi tiến hành điều tra, cán bộ cơ sở Hội phải biết nghiên cứu, xử lý số liệu thật chính xác, khoa học, thận trọng; tránh lối suy diễn giản đơn.

Bước 2: Tuyên truyền, giáo dục.

Sau khi đã thực hiện tốt bước điều tra – nghiên cứu, nắm chắc tình hình, đã định ra được phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp, người cán bộ phải làm tốt công tác tuyên truyền.

Muốn tiến hành bất cứ một công việc gì, cán bộ cơ sở Hội phải tìm cách tuyên truyền cho hội viên, nông dân hiểu rõ mục đích, yêu cầu, ý nghĩa, nội dung công việc, lợi ích của cá nhân và lợi ích chung của tập thể, của Hội.

– Nội dung tuyên truyền cần tập trung vào:

+ Tuyên truyền cho hội viên, nông dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

+ Tuyên truyền cho nông dân hiểu rõ các chủ trương công tác, các Nghị quyết, Chỉ thị của Hội, Điều lệ Hội để họ tự nguyện xin vào Hội và tự giác thực hiện các chương trình công tác của Hội.

+ Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương, cơ sở.

+ Phổ biến các kiến thức khoa học – kỹ thuật, quản lý kinh tế để giúp hội viên, nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao.

+ Tuyên truyền cho hội viên, nông dân phát huy truyền thống cách mạng của giai cấp nông dân và hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch.

– Phương pháp tuyên truyền: cán bộ cơ sở Hội cần sử dụng 3 phương pháp chủ yếu sau:

+ Phương pháp thuyết phục: Là phương pháp quan trọng nhất của hoạt động tuyên truyền, có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể tuyên truyền cá biệt hoặc tuyên truyền cho nhiều người.

+ Phương pháp nêu gương: Là phương pháp sử dụng những việc làm, gương điển hình trong đời sống thực tế, đưa ra các kiểu hành vi, lối sống phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội để tác động đến đối tượng (Lênin từng nói: “Gương sống có sức mạnh lớn, gương sống có tính chất cụ thể, cái cụ thể có hiệu quả cao và dễ lây lan”).

+ Phương pháp tâm lý giáo dục (phương pháp ám thị): Là phương pháp tác động tâm lý, từ cán bộ tuyên truyền đến hội viên, nông dân (cá nhân hoặc nhóm hội viên, nông dân), để họ tự giác tiếp thu một cách không phê phán những lời lẽ, hình ảnh mà trong đó chứa đựng các tư tưởng, ý chí cần truyền đạt của người tuyên truyền.

Phương pháp này được sử dụng trong tranh cổ động, áp phích, triển lãm, trong các bài nói chuyện.

Trong hoạt động tuyên truyền, cần biết kết hợp hài hoà giữa các phương pháp trên và tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, cán bộ cơ sở Hội có thể lựa chọn phương pháp tuyên truyền nào phù hợp, hiệu quả nhất, làm cho hội viên, nông dân thông suốt về tư tưởng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, làm theo; cần phải kiên trì thuyết phục, phải biết tranh thủ sự ủng hộ của những người có uy tín trong cộng đồng như các già làng, trưởng thôn (bản), trưởng dòng họ, các chức sắc tôn giáo, người chủ gia đình…

– Hình thức tuyên truyền:

+ Tuyên truyền miệng.

+ Tham quan thực tế.

+ Qua các buổi sinh hoạt, hội nghị.

+ Qua các phương tiện thông tin đại chúng (như phát thanh, truyền hình, bản tin, sách báo,…)

+ Bằng khẩu hiệu, áp phích, biểu ngữ, tờ rơi…

+ Qua các câu lạc bộ, hội nghề nghiệp…

+ Qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao quần chúng, lễ hội truyền thống…

Cán bộ cơ sở Hội phải biết sử dụng linh hoạt, hài hoà các hình thức tuyên truyền trên, song cần đặc biệt chú ý sử dụng hình thức tuyên truyền miệng. Vì hình thức này dễ thực hiện, ít tốn kém nhất, dân chủ và hiệu quả nhất.

Bước 3: Xây dựng tổ chức Hội

– “Tổ chức là tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm mục đích chung(6)

– Nông dân là lực lượng đông đảo, vì vậy muốn phát huy được sức mạnh đoàn kết của lực lượng này và sức mạnh đại đoàn kết của cả dân tộc, cần thiết phải đưa nông dân vào tổ chức Hội Nông dân Việt Nam.

Cán bộ Hội phải tuyên truyền, vận động để nông dân tự nguyện xin vào Hội, thực hiện các công việc vì lợi ích chung và vì lợi ích của mỗi hội viên. Có lực lượng hội viên đông đảo, được tổ chức chặt chẽ, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau, hoạt động đúng theo Điều lệ Hội sẽ hoàn thành mọi nhiệm vụ.

Với ý nghĩa trên, phải xây dựng cơ sở Hội, chi hội, tổ hội vững mạnh cả về tư tưởng, tổ chức, hành động, cả về số lượng và chất lượng hội viên.

– Cần đa dạng hóa các hình thức tập hợp nông dân, vận động hội viên, nông dân tham gia vào các tổ chức: Kinh tế hợp tác, hợp tác xã, các loại hình câu lạc bộ để tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ Hội, các Nghị quyết, Chỉ thị, nhiệm vụ công tác Hội; bồi dưỡng kiến thức, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, quản lý kinh tế, giúp hội viên, nông dân lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; xây dựng và phát triển các mô hình sản xuất – kinh doanh phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của địa phương nhằm đem lại lợi ích thiết thực, nâng cao đời sống, xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng; xây dựng gia đình nông dân văn hóa, làng, xã văn hóa; đẩy mạnh 3 phong trào do Hội phát động và tăng cường các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông dân nhiều hơn nữa, trên cơ sở đó mới có sức lôi cuốn ngày càng nhiều nông dân vào Hội và xây dựng tổ chức cơ sở Hội, chi hội, tổ hội vững mạnh.

– Cán bộ cơ sở Hội cần chú trọng xây dựng lực lượng hội viên cốt cán ở các chi hội, tổ hội.

Bước 4: Huấn luyện cán bộ, hội viên, nông dân.

– “Huấn luyện là giảng dạy và hướng dẫn luyện tập(7)

– Huấn luyện cán bộ:

+ Cán bộ cơ sở Hội có vai trò quyết định trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác Hội và phong trào nông dân ở địa phương, cơ sở. Bác Hồ nói: “Có cán bộ tốt, việc gì cũng xong”. Vì vậy, mỗi cán bộ cơ sở Hội phải tự mình thường xuyên học tập để nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là phải luôn cập nhật những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình, nhiệm vụ công tác Hội, cũng như các kiến thức cần thiết cho công tác hàng ngày. Đây thực chất là việc “tự huấn luyện” của mỗi cán bộ cơ sở Hội. Đồng thời, cán bộ cơ sở Hội cần phải được Hội cấp trên huấn luyện qua các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và các kiến thức bổ trợ cần thiết khác.

+ Cán bộ cơ sở Hội phải không ngừng tự rèn luyện về phẩm chất đạo đức, phong cách công tác, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, tận tụy với công việc, với phong trào để hội viên, nông dân tín nhiệm và noi theo.

– Xây dựng phong cách công tác sâu sát cơ sở, liên hệ mật thiết với hội viên, nông dân; làm việc tập thể, dân chủ; năng động, sáng tạo, nhạy bén với cái mới, đồng thời giữ đúng nguyên tắc: Lời nói đi đôi với việc làm, gương mẫu, cần cù, khiêm tốn, tôn trọng, tự tin, khẩn trương, chính xác; chống ỷ lại, thụ động, chờ đợi, thiếu trách nhiệm.

– Xây dựng phong cách giao tiếp: Nói rõ ràng, ngắn gọn, linh hoạt, thái độ niềm nở, vui vẻ, tế nhị, lịch thiệp.

– Huấn luyện quần chúng (hội viên, nông dân):

+ Sau khi đã “tự huấn luyện” và được Hội cấp trên huấn luyện, đến lượt mình, cán bộ cơ sở Hội cần phải huấn luyện cho hội viên, nông dân. Bởi vì: Nếu chỉ đưa nông dân vào tổ chức Hội mà không tiến hành công tác huấn luyện để nâng cao trình độ hiểu biết, giúp họ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ hội viên, cũng như cách thức sinh hoạt, hội họp, cách thực hành dân chủ, cách kiểm tra, giám sát công việc, cách làm ăn kinh tế đạt hiệu quả cao… thì kết quả công tác của tổ chức Hội chỉ là hình thức.

+ Một số nội dung cụ thể của công tác huấn luyện hội viên, nông dân: giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức, lối sống, nếp sống mới; phổ biến, giải thích về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là những chủ trương, chính sách, pháp luật có liên quan đến nông dân, nông nghiệp, nông thôn; hướng dẫn về Điều lệ Hội và các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương, nhiệm vụ công tác Hội; những kiến thức mới về khoa học kỹ thuật, quản lý, kinh doanh, dịch vụ…

+ Khi thực hiện công tác huấn luyện hội viên, nông dân, cán bộ cơ sở Hội phải hướng dẫn thật cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính khoa học, tính hiệu quả nghĩa là với thời gian và kinh phí ít, có thể huấn luyện được nhiều người nhất và những kiến thức mà hội viên, nông dân tiếp thu được có thể đem ra áp dụng ngay và đạt hiệu quả cao. Phương pháp tối ưu nhất là huấn luyện cho đội ngũ cán bộ chi hội, tổ hội, những hội viên cốt cán và những nông dân có trình độ văn hóa khá, những nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi, để sau đó những người này huấn luyện lại cho nông dân (nông dân dạy nông dân). Qua thực tiễn công tác, cần phát hiện những hội viên tích cực và có năng lực để đưa vào quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ kế cận và giới thiệu với Đảng xem xét, kết nạp.

Bước 5: Tổ chức phát động hội viên, nông dân thực hiện các phong trào hành động cách mạng.

Mục tiêu cuối cùng của các bước công tác trên là tạo ra và đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng của hội viên, nông dân. Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chủ trương, Nghị quyết, Chỉ thị của Hội chỉ trở thành hiện thực khi được hội viên, nông dân tự giác thực hiện.

Trong những năm qua, Hội Nông dân đã phát động, lãnh đạo, chỉ đạo các phong trào hành động cách mạng của nông dân đạt kết quả tương đối tốt, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và giữ vững an ninh, quốc phòng, được Đảng, Nhà nước, nhân dân đánh giá cao. Với tinh thần “Đoàn kết, đổi mới, hội nhập và phát triểnNghị quyết Đại hội V Hội Nông dân Việt Nam xác định: Những năm tới “Tiếp tục nâng cao chất lượng 3 phong trào thi đua lớn, góp phần thực hiện thắng lợi CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.

Nội dung phát động 3 phong trào thi đua lớn:

2.3.1. Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng

Mục tiêu của phong trào sản xuất, kinh doanh giỏi là nhằm động viên các hộ nông dân phát huy mọi tiềm lực, đoàn kết giúp nhau phát triển sản xuất, kinh doanh, xoá đói, giảm nghèo, chống tái nghèo và làm giàu. Tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng. Phấn đấu để phong trào có bước phát triển mới về chất, làm xuất hiện ngày càng nhiều hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi với các tố chất mới, đó là sản xuất, kinh doanh có hiệu quả trên cơ sở nâng cao chất lượng hàng hoá nông sản, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, đáp ứng khả năng cạnh tranh hàng hoá trong thời kỳ hội nhập; đoàn kết, chia sẻ kinh nghiệm giúp nhau làm giàu; tạo được nhiều việc làm cho người lao động trên cơ sở người lao động được đảm bảo quyền lợi về vật chất và tinh thần; liên kết, liên doanh, tham gia cổ phần vào các doanh nghiệp, phát triển kinh tế hợp tác, xây dựng hợp tác xã nông thôn.

Phong trào phải đi vào tổ chức hỗ trợ, giúp đỡ nông dân thi đua phát triển sản xuất, nâng cao đời sống trong điều kiện đất nước hội nhập nền kinh tế thị trường thế giới; chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị và khả năng cạnh tranh cao hơn; hình thành những vùng sản xuất hàng hoá lớn, tập trung. Khuyến khích nông dân tham gia thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất gắn với việc chuyển dịch lao động nông nghiệp sang các ngành, nghề khác; phát triển thành các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động ở nông thôn; phát triển các làng nghề, các cụm công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn. Phát triển quan hệ liên kết tham gia mua cổ phần giữa các hộ sản xuất với các cơ sở, nhà máy chế biến, doanh nghiệp thương mại, dịch vụ, cơ sở nghiên cứu khoa học theo mô hình liên kết “4 nhà”; phát triển kinh tế hợp tác, xây dựng hợp tác xã ở nông thôn, ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm vào sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá nông sản hội nhập vào thị trường thế giới.

Hỗ trợ hộ nghèo về kỹ thuật, vốn, vật tư nông nghiệp và kinh nghiệm sản xuất. Tiếp tục xây dựng các mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công, hướng dẫn người nghèo cách làm ăn, đồng thời tổng kết mô hình để nhân ra diện rộng.

Phấn đấu trong 5 năm mỗi hộ giàu giúp từ 5 hộ nghèo trở lên thoát nghèo. Mỗi năm cả nước giảm từ 3% hộ nghèo theo tiêu chí mới.

2.3.2. Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới

– Phát huy vai trò trung tâm và nòng cốt của Hội đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới. Tích cực vận động cán bộ, hội viên nông dân tham gia phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng nông thôn mà tập trung là giao thông nông thôn; kênh, mương thuỷ lợi, đê điều, cầu, cống; trường học, trạm xá, nhà văn hoá xã, thôn, ấp, bản; cơ sở hạ tầng thông tin…

– Thi đua xây dựng gia đình văn hoá, tham gia xây dựng làng (ấp, bản) văn hoá, xã văn hoá. Tích cực phối hợp với các ngành, đoàn thể tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vận động nông dân thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

Phấn đấu bình quân hàng năm có 2/3 số hộ sống ở địa bàn nông thôn đăng ký, trong đó có trên 1/2 số hộ đăng ký đạt danh hiệu “Gia đình văn hoá”, góp phần tích cực vào xây dựng nông thôn mới và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

– Tích cực tham gia công tác kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc giáo dục trẻ em góp phần nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài ở nông thôn.

– Vận động nông dân tham gia bảo vệ môi trường nông thôn; thực hiện chương trình hành động phòng chống ma tuý, mại dâm, tệ nạn xã hội; an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn lao động và phòng chống cháy nổ…

– Xây dựng nông thôn mới phải gắn với xây dựng người nông dân mới có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới như mục tiêu Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng (khóa X) đã đề ra.

2.3.3. Phong trào nông dân tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu lợi dụng tôn giáo, dân tộc, dân chủ để kích động chiến tranh tâm lý chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Nâng cao hiệu quả thực hiện Nghị quyết liên tịch giữa Hội Nông dân Việt Nam với lực lượng quân đội, công an, tích cực tham gia xây dựng các khu vực phòng thủ, các “Điểm sáng vùng biên”, tự quản đường biên, mốc giới nhất là thế trận quốc phòng toàn dân ở các vùng ven biển, biên giới, hải đảo. Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân hăng hái tham gia dân quân tự vệ, bảo vệ an ninh, thực hiện nghĩa vụ quân sự, “chính sách hậu phương quân đội”, xây dựng nhà tình nghĩa, chăm sóc người có công. Gương mẫu chấp hành luật pháp; tham gia xây dựng thôn, ấp, bản không có người phạm tội; phát hiện, tố giác tội phạm; cảm hoá, giáo dục người phạm tội, người lầm lỗi.

Một số lưu ý về phương pháp tổ chức phát động nông dân thực hiện các phong trào hành động cách mạng:

– Việc phát động các phong trào hành động cách mạng của nông dân cần được tuyên truyền, vận động, tổ chức cho hội viên, nông dân đăng ký sớm ngay từ đầu mỗi năm, sau hội nghị tổng kết phong trào nông dân của năm trước và phải xây dựng được chương trình, kế hoạch cụ thể, chi tiết.

– Để thực hiện tốt các phong trào trên, cán bộ cơ sở Hội phải thực sự gương mẫu, luôn sâu sát với phong trào, sâu sát các chi hội, tổ hội, gặp gỡ hội viên, nông dân, biết vận dụng, phối hợp các bước công tác vào từng công việc cụ thể, đối tượng cụ thể và tình hình thực tế của cơ sở Hội; phải thường xuyên và nhanh chóng thu thập đầy đủ thông tin, xử lý thông tin chính xác, kịp thời phân tích diễn biến của phong trào và giải quyết, giải đáp những vướng mắc của hội viên, nông dân, giúp đỡ họ thực hiện tốt nội dung các phong trào, vì lợi ích thiết thực của chính họ, lợi ích của cộng đồng ở cơ sở và lợi ích của toàn dân tộc.

– Cần đẩy mạnh việc xây dựng mô hình, điển hình, tham quan học tập kinh nghiệm, kịp thời phát hiện những gương người tốt, việc tốt để động viên khen thưởng và nhân điển hình ra diện rộng. Sau mỗi công việc phải có sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, bài học để tổ chức, chỉ đạo phong trào ngày càng tốt hơn./.

MAI GẤM (ST)