bursa escort bayan görükle bayan escort

bursa escort görükle escort

perabet giris adresi canli casino perabet 1xbet bahis kacak iddaa alanya escort bayan antalya escort bodrum escort seks hikayeleri sex hikayeleri

görükle escort escort bayan elit bayan escort escort kızlar bursa vip bayan eskort escort bayanlar escort

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ VỀ THI HÀNH ĐIỀU LỆ HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM – Hội nông dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Menu Đóng

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ VỀ THI HÀNH ĐIỀU LỆ HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

       BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

*

Số 1030 – HD/HNDTW

Hà Nội, ngày  01 tháng 11  năm 2013

HƯỚNG DẪN

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ VỀ THI HÀNH ĐIỀU LỆ

HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM

Căn cứ Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam (đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VI thông qua ngày 03/7/2013); Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam hướng dẫn thực hiện một số điều của Điều lệ Hội như sau:

1. Điều 3: Hội viên

1.1- Đối tượng, điều kiện kết nạp (khoản 1):

– Tính đến thời điểm kết nạp, người được kết nạp phải đủ 18 tuổi.

– Lao động khác trong các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn là những người đang sinh sống ở những nơi có tổ chức Hội, gồm:

+ Cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu.

+ Lao động tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ, du lịch, thương mại.

+ Các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật, nghệ nhân…..

1.2- Thủ tục kết nạp hội viên (khoản 1): 

– Người xin vào Hội phải tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện có đơn gửi chi hội hoặc tổ hội (nơi có tổ hội). Chi hội tổ chức hội nghị toàn thể hội viên hoặc hội nghị cán bộ mở rộng đến tổ hội (nếu có) xem xét, lựa chọn người đủ điều kiện, tiêu chuẩn và lập danh sách đề nghị lên ban chấp hành cơ sở Hội xét và ra quyết định kết nạp.

– Khi nhận được đề nghị xét kết nạp hội viên của chi hội, ban thường vụ cơ sở Hội có trách nhiệm xét kết nạp vào cuộc họp ban thường vụ gần nhất và ra quyết định kết nạp hội viên; Nếu có trường hợp không được xét kết nạp thì phải trả lời bằng văn bản lý do không được kết nạp cho chi hội để chi hội thông báo cho người xin vào Hội biết.

– Khi có quyết định kết nạp hội viên, chi hội mời những người có tên trong danh sách được kết nạp dự cuộc họp chi hội gần nhất và công bố quyết định kết nạp hội viên mới (nơi có tổ hội thì công bố tại tổ hội nhưng phải thông báo cho toàn thể chi hội biết vào kỳ họp gần nhất). Thời gian được công nhận là hội viên tính từ ngày ghi trên quyết định kết nạp.

1.3- Công tác quản lý hội viên

1.3.1 Quản lý hội viên:

– Chi hội, ban chấp hành cơ sở Hội có Sổ danh sách hội viên theo dõi kết nạp hội viên, sự biến động hội viên và phát Thẻ hội viên theo mẫu của Trung ương Hội ban hành.

– Chi hội, cơ sở Hội hàng quý; Hội cấp huyện, cấp tỉnh 6 tháng, 1 năm có trách nhiệm báo cáo đầy đủ tình hình biến động hội viên của đơn vị mình đối với Hội cấp trên trực tiếp.

1.3.2- Xem xét miễn sinh hoạt:

– Hội viên thường xuyên đi lao động, làm ăn xa trong thời gian không quá 1 năm thì báo cáo chi hội để được miễn sinh hoạt Hội trong thời gian vắng mặt tại nơi cư trú (trường hợp hội viên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài thì không quá 3 năm).

– Đối với hội viên tuổi cao, sức yếu (từ 60 tuổi trở lên), nếu vì lý do sức khỏe không tham gia sinh hoạt và các hoạt động của Hội được thì báo cáo chi hội xem xét để được miễn sinh hoạt và các hoạt động của Hội. Chi hội báo cáo ban thường vụ cơ sở Hội biết và theo dõi.

* Nhiệm vụ, quyền lợi của hội viên được miễn sinh hoạt và hoạt động Hội.

+ Nhiệm vụ:

Thực hiện nhiệm vụ của hội viên quy định tại Điều 4, Điều lệ Hội phù hợp với sức khỏe.

+ Quyền lợi:

Được mời dự Hội nghị toàn thể hội viên. Được hưởng quyền lợi đầy đủ như hội viên đang tham gia sinh hoạt và hoạt động của Hội.

Nếu vi phạm tư cách hội viên vẫn bị xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Hội.

1.3.3- Việc xóa tên trong danh sách hội viên

– Chi hội xem xét, đề nghị lên ban thường vụ cơ sở Hội quyết định việc xóa tên trong danh sách hội viên đối với trường hợp hội viên vi phạm pháp luật, Điều lệ Hội, không tham gia sinh hoạt Hội và thực hiện nhiệm vụ của hội viên 3 kỳ liên tiếp hoặc không đóng hội phí 6 tháng trong một năm mà không có lý do chính đáng.

– Trường hợp hội viên thường xuyên đi lao động ở xa không quá 1 năm (đối với hội viên đi lao động có thời hạn ở nước ngoài không quá 3 năm), trong thời gian đó hội viên có báo cáo với cán bộ chi Hội và sau mỗi đợt đi về vẫn tham gia sinh hoạt, thực hiện nhiệm vụ của hội viên, đóng hội phí đầy đủ và có những đóng góp cho hoạt động của chi hội thì không coi là bỏ sinh hoạt và không xóa tên trong danh sách hội viên.

1.3.4 Thẻ hội viên:

– Thẻ hội viên Hội Nông dân Việt Nam do Ban Chấp hành Trung ương Hội thống nhất phát hành. Việc cấp Thẻ hội viên do ban thường vụ Hội Nông dân các tỉnh, thành phố quy định. Thẻ có dán ảnh và đóng dấu nổi của Hội Nông dân cấp tỉnh. Hội viên được nhận thẻ hội viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ hội viên.

– Thẻ hội viên được dùng trong công tác và sinh hoạt nội bộ Hội Nông dân và xuất trình khi cần.

– Hội viên không được cho người khác mượn Thẻ; Thẻ hội viên không còn giá trị khi hội viên không còn tham gia tổ chức Hội.

– Hội viên bị xóa tên thì thu hồi Thẻ. Ban thường vụ cơ sở Hội có trách nhiệm thu hồi thẻ và báo cáo Hội cấp trên trực tiếp.

– Khi thẻ bị mất hoặc hư hỏng thì phải báo cho chi Hội biết; chi Hội lập văn bản báo cáo lên Hội cấp trên đề nghị cấp lại hoặc đổi thẻ hội viên.

1.3.5– Khi hội viên thay đổi nơi cư trú thì báo cáo chi Hội nơi đi và báo cáo, xuất trình thẻ hội viên với tổ chức Hội cơ sở nơi đến cư trú để tiếp tục tham gia sinh hoạt Hội (nếu chưa có thẻ hội viên thì phải có giấy giới thiệu của ban thường vụ cơ sở Hội).

2. Điều 5: Quyền lợi của hội viên

2.1- Quyền ứng cử, đề cử, bầu cử (Khoản 3):

– Việc ứng cử, đề cử, bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

– Người tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử là đảng viên thực hiện theo Quy định của Đảng cộng sản Việt Nam.

3. Điều 6: Nguyên tắc tổ chức và hoạt động

3.1- Nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động của cơ quan lãnh đạo Hội các cấp

– Hội Nông dân Việt Nam tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

– Nghị quyết của cơ quan lãnh đạo Hội các cấp chỉ có giá trị thi hành khi có trên 1/2 số thành viên triệu tập tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Thành viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu ý kiến và được báo cáo với Hội cấp trên trực tiếp. Khi chưa có ý kiến của Hội cấp trên trực tiếp, thành viên đó phải chấp hành nghị quyết của tập thể và không được truyền bá ý kiến cá nhân và làm trái với nghị quyết. Khi thi hành, phải thực hiện Nghị quyết của tập thể.

3.2. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Hội được bầu cử trực tiếp bằng phiếu kín.

Việc bầu cử thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

3.3- Quy trình, thủ tục công nhận kết quả bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

Ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ tịch, các phó chủ tịch Hội từ cấp tỉnh trở xuống phải được ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp công nhận.

– Ban thường vụ khóa mới báo cáo lên ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp các biên bản bầu cử ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch kèm theo danh sách trích ngang và tờ trình đề nghị công nhận kết quả bầu cử. Tờ trình do chủ tịch hoặc phó chủ tịch (đối với nơi chưa bầu chủ tịch) mới được bầu tại Hội nghị ban chấp hành lần thứ nhất ký.

– Chủ tịch, phó chủ tịch được điều hành các công việc ngay sau khi được đại hội hoặc hội nghị bầu.

– Trường hợp phát hiện có sự vi phạm Điều lệ và nguyên tắc, thủ tục bầu cử thì ban chấp hành cấp trên trực tiếp có quyền không công nhận kết quả bầu cử và chỉ đạo tiến hành bầu lại; hoặc thấy có một hoặc một số chức danh đã được bầu nhưng không đảm bảo nguyên tắc, tiêu chuẩn quy định thì có quyền không công nhận một hoặc một số chức danh đó.

– Trong vòng 15 ngày làm việc (không tính ngày nghỉ, lễ) kể từ khi nhận đủ hồ sơ của cấp dưới, ban thường vụ Hội cấp trên phải ra quyết định công nhận. Nếu không công nhận phải thông báo và nêu rõ lý do cho Hội cấp dưới  biết.

4. Điều 7: Hệ thống tổ chức của Hội

4.1- Hệ thống tổ chức Hội được thành lập tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước.

4.2- Tổ chức Hội được xác định tương đương với tổ chức Hội cơ sở được thành lập theo đơn vị hành chính là những tổ chức do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh, cấp huyện phối hợp với cơ quan có thẩm quyền thống nhất thành lập trong một số nông trường, lâm trường, hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ…mà thực hiện chức năng, nhiệm vụ tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở.

5. Điều 8: Đại hội Hội Nông dân các cấp

5.1- Đại biểu đại hội   

5.1.1- Số lượng đại biểu (khoản 1):

Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định số lượng đại biểu dự đại hội căn cứ vào số lượng, đơn vị trực thuộc, số lượng hội viên và phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương trên cơ sở hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

– Ở những nơi có số lượng hội viên dưới 100 người thì tổ chức đại hội toàn thể hội viên trừ trường hợp đặc biệt sẽ do ban chấp hành cấp trên trực tiếp quyết định trên cơ sở thống nhất ý kiến với cấp ủy cấp triệu tập đại hội.

5.1.2- Thành phần đại biểu (khoản 2):

– Ủy viên ban chấp hành cấp triệu tập đại hội ở đơn vị nào là đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đơn vị đó. Đối với ủy viên ban chấp hành cơ cấu, không chuyên trách thì thuộc đoàn đại biểu của cơ quan Hội chuyên trách cấp triệu tập đại hội.

– Đại biểu do đại hội, hội nghị đại biểu cấp dưới bầu lên theo phân bổ số lượng của ban chấp hành cấp triệu tập đại hội. Ban chấp hành cấp triệu tập đại hội phân bổ số lượng đại biểu đại hội theo những căn cứ chủ yếu sau:

+ Số lượng hội viên.

+ Số lượng tổ chức trực thuộc cấp đó.

+ Tính đặc thù, những đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội…

– Đại biểu chỉ định: Đại biểu chỉ định là những đại biểu do ban chấp hành cấp triệu tập đại hội quyết định ngoài số đại biểu đương nhiên và đại biểu bầu. Chỉ chỉ định những trường hợp cần thiết và phải bảo đảm tiêu chuẩn đại biểu. Không chỉ định những người đã bầu cử ở cấp dưới không trúng cử chính thức hoặc dự khuyết làm đại biểu của đại hội.Số lượngđại biểu được chỉ định không quá 5% số lượng đại biểu chính thức của đại hội.

5.1.3-  Bầu đại biểu chính thức và đại biểu dự khuyết dự đại hội cấp trên

– Việc bầu cử đại biểu dự đại hội cấp trên (cả chính thức và dự khuyết) thực hiện theo Quy chế bầu cử trong hệ thống Hội Nông dân Việt Nam.

5.1.4- Thay thế đại biểu

Việc chuyển đại biểu dự khuyết thành đại biểu chính thức do ban thường vụ cấp triệu tập đại hội quyết định.

– Nguyên tắc thay thế đại biểu:

+ Đại biểu dự khuyết được bầu thuộc đoàn đại biểu nào thì được thay thế đại biểu chính thức của đoàn đại biểu đó.

+ Đại biểu dự khuyết được chuyển thành đại biểu chính thức theo thứ tự số phiếu bầu từ cao xuống thấp; nếu phiếu bầu bằng nhau thì người có thành tích nổi trội, có quá trình cống hiến nhiều hơn sẽ được lựa chọn.

– Khi đại biểu chính thức được bầu tại đại hội vắng mặt có lý do chính đáng  thì đại biểu dự khuyết thay thế. Ban thường vụ Hội nơi có sự thay đổi đại biểu phải có tờ trình báo cáo lý do và đề cử đại biểu dự khuyết thay thế gửi ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội và phải được ban thường vụ Hội cấp triệu tập đại hội đồng ý bằng văn bản.

Trường hợp đã thay thế hết số đại biểu dự khuyết mà số đại biểu chính thức đã được bầu vẫn thiếu, nếu cần thiết thì ban chấp hành cấp triệu tập đại hội xem xét, quyết định chỉ định bổ sung theo đề nghị của ban thường vụ Hội cấp dưới nhưng với điều kiện tổng số đại biểu chỉ định vẫn nằm trong giới hạn tỉ lệ 5% so với tổng số đại biểu được triệu tập.

5.1.5- Bác tư cách đại biểu

Đại hội cấp triệu tập có trách nhiệm xem xét bác bỏ tư cách đại biểu trong các trường hợp sau:

– Đại biểu đang trong thời gian bị cơ quan pháp luật khởi tố, truy tố. Đại biểu được bầu đang trong thời gian bị thi hành kỷ luật từ hình thức cảnh cáo trở lên.

– Đại biểu được bầu không đúng quy định của Điều lệ Hội.

– Trong thời gian đại hội, đại biểu phạm tội bị bắt quả tang hoặc vi phạm nội quy đại hội gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức Hội.

5.2- Về kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội (khoản 4)

– Các trường hợp đặc biệt có thể tổ chức đại hội sớm hoặc muộn hơn nhưng không được quá một năm (mười hai tháng), bao gồm:

Khi có thay đổi địa giới hành chính (tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới) theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp có quyền quyết định điều chỉnh thời gian nhiệm kỳ đại hội lần thứ nhất để phù hợp với thời gian nhiệm kỳ đại hội Hội cùng cấp trong cả hệ thống Hội. Nhiệm kỳ của tổ chức Hội mới không nhất thiết phải đủ 5 năm.

– Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội cấp tỉnh khi cần. Ban thường vụ Hội cấp tỉnh xem xét, quyết định kéo dài, rút ngắn nhiệm kỳ đại hội Hội Nông dân cấp huyện và cấp cơ sở để phù hợp với nhiệm kỳ chung.

– Trước khi quyết định việc kéo dài hoặc rút ngắn thời gian nhiệm kỳ đại hội phải có sự trao đổi thống nhất với cấp ủy cùng cấp của cấp triệu tập đại hội.

– Đối với Đại hội đại biểu toàn quốc do Ban Chấp hành Trung ương Hội thảo luận, thống nhất, báo cáo xin ý kiến Ban Bí thư Trung ương Đảng.

5.3- Về Hội nghị đại biểu

5.3.1- Số lượng đại biểu:

Việc phân bổ số lượng đại biểu của hội nghị đại biểu như căn cứ phân bổ số lượng đại biểu đại hội.

5.3.2- Thành phần đại biểu của Hội nghị đại biểu:

– Cán bộ chủ chốt của ban chấp hành cấp dưới.

– Một số cán bộ Hội chuyên trách, không chuyên trách.

– Hội viên tiêu biểu.

Danh sách đại biểu dự hội nghị đại biểu cấp trên do ban chấp hành cấp dưới thảo luận, thống nhất đề nghị; ban chấp hành cấp triệu tập hội nghị quyết định chuẩn y và triệu tập.

6. Điều 9: Ban chấp hành Hội Nông dân các cấp

6.1- Xây dựng ban chấp hành khóa mới (khoản 1)

6.1.1-  Xây dựng ban chấp hành bảo đảm các yếu tố, tiêu chuẩn do Ban Chấp hành Trung ương Hội quy định.

6.1.2- Tiêu chuẩn, điều kiện tham gia ban chấp hành

Trên cơ sở chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội có hướng dẫn trước mỗi kỳ đại hội theo các quy định hiện hành của Đảng, Nhà nước có liên quan; đối với tiêu chuẩn ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội sẽ do Ban Chấp hành Trung ương Hội quy định.

6.1.3- Cơ cấu ban chấp hành

– Cán bộ chuyên trách, kiêm nhiệm, chủ chốt các cấp Hội; hội viên tiêu biểu có đủ tiêu chuẩn và khả năng hoàn thành nhiệm vụ.

– Chú trọng cán bộ trưởng thành từ phong trào nông dân, từ cơ sở. Đảm bảo tỷ lệ cán bộ nữ, thành phần dân tộc, cán bộ khoa học kỹ thuật…

– Những cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan Đảng, chính quyền,  đoàn thể chính trị – xã hội, các doanh nghiệp nếu có đủ điều kiện và tín nhiệm, được cấp uỷ Đảng và ban chấp hành Hội cùng cấp giới thiệu thì được đề cử để đại hội bầu vào ban chấp hành hoặc Hội nghị ban chấp hành bầu bổ sung vào ban chấp hành Hội các cấp.

6.1.4- Số lượng ủy viên ban chấp hành Hội các cấp

– Trước mỗi kỳ Đại hội căn cứ vào Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội, Ban Thường vụ Trung ương Hội hướng dẫn cụ thể việc chuẩn bị và tiến hành đại hội hội nông dân các cấp, trong đó có quy định về số lượng (tối đa, tối thiểu) của ban chấp hành các cấp. Ban chấp hành Hội Nông dân cấp tỉnh căn cứ vào hướng dẫn của Ban Thường vụ Trung ương Hội để cụ thể hoá và hướng dẫn ban chấp hành Hội Nông dân cấp dưới thực hiện.

– Số lượng uỷ viên ban chấp hành cấp nào do đại hội cấp đó quyết định, nhưng phải đảm bảo số lượng tối thiểu và không vượt quá số lượng tối đa do ban thường vụ cấp trên trực tiếp hướng dẫn.

6.2- Bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch

Chỉ bổ sung ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch khi khuyết các chức danh đó.

6.2.1- Các trường hợp bầu bổ sung

– Bầu chưa đủ số lượng do đại hội quyết định.

– Khi ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch nghỉ hưu, nghỉ công tác, chuyển công tác, bị kỷ luật cách chức hoặc vì lý do cá nhân khác xin rút tên.

6.2.2- Nguyên tắc bầu bổ sung

– Bầu bổ sung ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch phải đảm bảo đúng thành phần, cơ cấu, số lượng đã được đại hội hoặc hội nghị thông qua.

– Trước khi bầu bổ sung uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch ở mỗi cấp, ban thường vụ cấp đề nghị phải có văn bản báo cáo cụ thể và phải được sự thống nhất, đồng ý của cấp ủy cùng cấp theo quy định phân cấp quản lý cán bộ và ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp bằng văn bản. Văn bản đề nghị kiện toàn, bổ sung cần ghi rõ lý do bổ sung.

– Trong cùng một cuộc họp, người vừa được bầu bổ sung vào ban chấp hành được quyền ứng cử, đề cử và bầu cử các chức danh khác tại cuộc họp đó.

6.3- Chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch các cấp Hội (khoản 3):

Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ và các chức danh chủ chốt trong trường hợp tổ chức Hội mới được thành lập hoặc được thành lập mới do có sự thay đổi về địa giới hành chính như chia tách, sáp nhập, hợp nhất trong nhiệm kỳ; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ mới cho phù hợp.

Quy trình chỉ định

– Trường hợp chia tách, ban thường vụ Hội khóa đương nhiệm nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính báo cáo về dự kiến nhân sự phù hợp với cơ cấu tổ chức mới với Hội cấp trên trực tiếp sau khi có sự thống nhất của cấp ủy cùng cấp; Ban Thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành khóa đương nhiệm và cấp ủy nơi có sự thay đổi về địa giới hành chính dự kiến nhân sự để chỉ định.

– Trường hợp sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới tổ chức Hội, ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành Hội và cấp ủy của các đơn vị được sáp nhập, hợp nhất hoặc thành lập mới.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp ra quyết định chỉ định ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban thường vụ, chủ tịch và phó chủ tịch.

6.4- Việc đương nhiên không còn là ủy viên ban chấp hành; cho rút tên khỏi ban chấp hành, ban thường vụ, thôi giữ chức danh chủ tịch, phó chủ tịch (khoản 5, 6):

– Uỷ viên ban chấp hành có quyết định nghỉ hưu hoặc có thông báo nghỉ công tác (kể từ thời điểm quyết định nghỉ hưu hoặc thông báo nghỉ công tác có hiệu lực thi hành) thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành.

– Uỷ viên ban chấp hành chuyển công tác khác mà vị trí công tác mới không thuộc thành phần cơ cấu tham gia ban chấp hành kể từ thời điểm quyết định chuyển công tác có hiệu lực thi hành thì đương nhiên không còn là uỷ viên ban chấp hành.

– Đối với người tham gia ban chấp hành nhiều cấp: Nếu bị kỷ luật cách chức hoặc rút tên khỏi ban chấp hành cấp dưới thì không còn là ủy viên ban chấp hành các cấp trên.

– Đối với các chức danh chủ tịch, phó chủ tịch Hội các cấp trước khi cho rút tên khỏi danh sách ban chấp hành phải báo cáo và được sự đồng ý của cấp ủy đảng cùng cấp và Hội cấp trên trực tiếp.

– Nếu rút tên trong ban chấp hành thì không còn là ủy viên ban thường vụ và không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có). Nếu chỉ rút tên trong ban thường vụ thì không còn giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch (nếu có) nhưng vẫn còn là ủy viên ban chấp hành. Nếu chỉ thôi giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch thì vẫn còn là ủy viên ban thường vụ, uỷ viên ban chấp hành.

7. Khoản 4, Điều 10: Thành lập, chia tách, sáp nhập, chấm dứt, giải thể hoạt động tổ chức Hội

7.1- Các trường hợp chia tách, sáp nhập tổ chức Hội

7.1.1- Chia tách tổ chức Hội trong trường hợp:

Có sự chia tách đơn vị hành chính thành các đơn vị (như chia tách một tỉnh, huyện, xã thành nhiều tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng chia tách thành hai hay nhiều tổ chức Hội.

7.1.2- Sáp nhập tổ chức Hội trong trường hợp:

Có sự sáp nhập đơn vị hành chính (như sáp nhập hai hay nhiều tỉnh, huyện, xã thành một tỉnh, huyện, xã) theo đó, tổ chức Hội thuộc các đơn vị này cũng sáp nhập thành một tổ chức Hội.

Việc chia tách, sáp nhập tổ chức Hội có thể diễn ra đồng thời trong trường hợp chia tách các bộ phận của hai hay nhiều đơn vị hành chính để sáp nhập các bộ phận đó lại thành một đơn vị (như tách một hay nhiều huyện của hai hay nhiều tỉnh để thành lập tỉnh mới; tách một hay nhiều xã của hai hay nhiều huyện để thành lập một huyện mới; tách một hay nhiều thôn, ấp, bản của một hay nhiều xã để thành lập một xã mới) theo đó tổ chức Hội của những đơn vị này cũng được chia tách để sáp nhập thành một tổ chức Hội mới.

Việc xác định cấp của tổ chức Hội được chia tách, sáp nhập do Hội cấp trên trực tiếp quyết định.

7.2- Thẩm quyền quyết định và thủ tục thành lập, chia tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động, giải thể tổ chức Hội

7.2.1- Chia tách, sáp nhập tổ chức Hội.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định việc chia tách, sáp nhập tổ chức Hội, sau khi thống nhất với cấp ủy Đảng của đơn vị chia tách hoặc sáp nhập.

– Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ, chủ tịch, phó chủ tịch của các tổ chức Hội mới chia tách, sáp nhập.

* Hồ sơ chia tách, sáp nhập gồm:

– Đối với trường hợp chia tách: :

+ Văn bản đề nghị của ban thường vụ Hội đơn vị được chia tách gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

+ Đề án chia tách tổ chức Hội có ý kiến nhất trí của cấp ủy.

+ Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc chia tách đơn vị hành chính.

– Đối với trường hợp sáp nhập:

+ Văn bản đề nghị của tổ chức Hội có đơn vị được sáp nhập gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

+ Đề án sáp nhập tổ chức Hội có ý kiến nhất trí của cấp ủy.

+ Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc sáp nhập đơn vị hành chính.

7.2.2- Chấm dứt hoạt động tổ chức Hội

– Khi không còn đủ điều kiện của một tổ chức Hội ở một cấp như số lượng hội viên, số lượng chi hội, cơ sở Hội…., tổ chức Hội ở đơn vị đó có nguyện vọng chấm dứt hoạt động thì ban chấp hành của tổ chức Hội nơi muốn chấm dứt hoạt động đề nghị ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp xem xét quyết định. Việc chấm dứt hoạt động một tổ chức Hội phải có sự trao đổi thống nhất giữa ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp với cấp uỷ nơi có tổ chức Hội đề nghị chấm dứt hoạt động. Đồng thời ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp báo cáo cấp uỷ cùng cấp của mình và ra quyết định chấm dứt hoạt động.

– Quy trình, thủ tục chấm dứt hoạt động:

+ Ban chấp hành tổ chức Hội đơn vị có nhu cầu chấm dứt hoạt động báo cáo thực trạng công tác Hội và phong trào nông dân, tình hình tổ chức Hội của đơn vị mình đồng thời đề xuất phương án giải quyết với Hội cấp trên trực tiếp và cấp ủy cùng cấp.

+ Có văn bản đề nghị được chấm dứt hoạt động gửi ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp.

+ Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành tổ chức Hội nơi muốn chấm dứt hoạt động và cấp ủy trực tiếp quản lý, xác định rõ lý do chấm dứt hoạt động; đồng thời báo cáo cấp ủy cùng cấp về phương án giải quyết.

+ Khi có quyết định chấm dứt hoạt động, ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp của tổ chức Hội được chấm dứt hoạt động thông báo đến các cơ quan, đơn vị liên quan biết và thu hồi lại con dấu.

7.2.3- Giải thể tổ chức Hội

– Khi tổ chức Hội vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật và Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam, ban thường vụ Hội cấp thành lập xem xét, quyết định giải thể tổ chức Hội đó.

– Quy trình, thủ tục giải thể tổ chức Hội:

+ Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp làm việc với ban chấp hành nơi bị giải thể và cấp ủy quản lý trực tiếp. Xác định rõ lý do giải thể.

+ Ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp của tổ chức Hội bị giải thể báo cáo cấp ủy cùng cấp và Hội cấp trên trước khi ra quyết định giải thể.

+ Khi có quyết định giải thể một tổ chức Hội, ban thường vụ Hội cấp trên trực tiếp thông báo đến các cơ quan, đơn vị liên quan biết và thu hồi lại con dấu.

7.2.4- Ban thường vụ cơ sở Hội hoặc cấp trên trực tiếp quyết định việc thành lập, chia tách, sáp nhập, chấm dứt hoạt động, giải thể chi hội trực thuộc. Quy trình thực hiện như cấp cơ sở.

8. Điều 11: Tổ chức cơ sở Hội

8.1- Cơ sở Hội là nền tảng của Hội là nơi trực tiếp với hội viên, nông dân; đoàn kết, tập hợp, vận động, hướng dẫn hội viên nông dân tương trợ, giúp đỡ nhau thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phát triển sản xuất, nâng cao đời sống; là nơi trực tiếp thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Hội.

– Ngoài việc thành lập theo đơn vị hành chính (xã, phường, thị trấn), những tổ chức Hội có tính chất đặc thùvề nhiệm vụ chính trị, về đối tượng hội viên như nông trường, lâm trường; hợp tác xã nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ….. nếu có nhu cầu và đủ điều kiện, được sự thống nhất của cấp uỷ cùng cấp và Hội cấp trên đồng ý thì thành lập tổ chức Hội tương đương Hội Nông dân cấp cơ sở và do ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện quyết định.

– Đối với những đơn vị thành lập mới phải có từ 2 chi hội và 100 hội viên trở lên.

8.2- Trường hợp đặc thù tổ chức Hội cấp dưới không còn tổ chức Hội cấp trên trực tiếp thì Hội cấp trên kế tiếp trực tiếp chỉ đạo tổ chức Hội cấp dưới đó. Cụ thể như sau:

– Tại các quận, thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh, không có tổ chức Hội mà vẫn có cơ sở Hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của quận, thị, thành trực thuộc tỉnh để cử cán bộ theo dõi cơ sở Hội đó; việc công nhận uỷ viên ban chấp hành, ban thường vụ, chức danh chủ tịch, các phó chủ tịch do ban thường vụ Hội cấp tỉnh quyết định.

– Trường hợp tổ chức Hội cấp cơ sở không còn mà vẫn còn chi hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp huyện trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ của xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi hội đó. Việc công nhận chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội cấp huyện quyết định.

– Trường hợp cấp cơ sở Hội và quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh không còn tổ chức Hội mà còn chi hội thì ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp uỷ xã, phường, thị trấn cử cán bộ theo dõi chi hội đó. Việc công nhận chi hội trưởng, chi hội phó do ban thường vụ Hội Nông dân cấp tỉnh quyết định.

8.3- Quy trình, thủ tục thành lập tổ chức cơ sở Hội :

– Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập tổ chức cơ sở Hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp làm việc với cấp ủy nơi có nhu cầu thành lập để thống nhất về việc thành lập tổ chức cơ sở Hội, kết nạp hội viên, xem xét, lựa chọn nhân sự ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh chủ chốt.

– Thủ tục:

+ Văn bản đề nghị thành lập của cấp uỷ nơi có nguyện vọng thành lập cơ sở Hội.

+ Đề án mô hình tổ chức cơ sở Hội và nhân sự cơ quan lãnh đạo mới.

+ Danh sách hội viên (nếu có); danh sách và đơn xin tham gia tổ chức Hội của nông dân và lao động khác.

+ Danh sách trích ngang đề cử ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo.

– Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp trên trực tiếp ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập tổ chức cơ sở Hội và chỉ định ban chấp hành, ban thường vụ và chức danh lãnh đạo của tổ chức Hội được thành lập.

– Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

9. Điều 13: Chi hội

9.1- Chi hội là đơn vị hành động, là tế bào của Hội và là hạt nhân nòng cốt đoàn kết, tập hợp hội viên, nông dân.

9.2- Chi hội tổ chức theo thôn, ấp, bản, làng, tổ dân phố phù hợp với địa bàn dân cư và sự lãnh đạo của chi bộ, theo hợp tác xã và theo nghề nghiệp. Chi hội có quy mô lớn với 50 hội viên trở lên thì chia thành các tổ hội, theo nghề nghiệp, tổ hợp tác hoặc cụm dân cư. Chi hội trên địa bàn dân cư vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo mà hội viên phân tán trên địa bàn rộng, đi lại khó khăn thì dưới 50 hội viên vẫn có thể chia thành các tổ hội để thuận tiện cho việc sinh hoạt và tổ chức các hoạt động của Hội.

Ngoài mô hình trên, tại các cơ sở Hội, có thể hình thành các câu lạc bộ, nhóm/tổ hội viên nông dân có tính chất đặc thù thuộc sự quản lý, điều hành của ban chấp hành cơ sở Hội hoặc của chi hội.

9.3- Quy trình, thủ tục thành lập chi hội

– Khi một đơn vị có đủ điều kiện và có nguyện vọng thành lập chi hội, ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở hoặc cấp trên trực tiếp trao đổi thống nhất với cấp uỷ quản lý của nơi có nhu cầu thành lập chi hội; đồng thời xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy cùng cấp để thống nhất về việc thành lập chi hội, kết nạp hội viên, lựa chọn nhân sự cán bộ chi hội.

– Thủ tục:

+ Văn bản của cấp uỷ đảng nơi có nguyện vọng thành lập chi hội.

+ Danh sách hội viên (nếu có); danh sách, đơn xin tham gia tổ chức Hội của nông dân và lao động khác.

+ Danh sách trích ngang đề cử cán bộ chi hội.

– Ban thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở ra quyết định công nhận hội viên, quyết định thành lập chi Hội.

– Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập.

9.4- Chi hội tổ chức hội nghị hội viên hoặc hội nghị đại biểu hội viên (đối với chi hội có từ 100 hội viên trở lên) để bầu chi hội trưởng, chi hội phó và bầu đại biểu đi dự đại hội cấp trên. Trường hợp chi hội có trên 100 hội viên mà vẫn có nguyện vọng tổ chức hội nghị toàn thể hoặc chi hội có dưới 100 hội viên nhưng muốn tổ chức hội nghị đại biểu thì phải được sự đồng ý của cấp uỷ và Hội cấp trên trực tiếp. Việc bầu cử có thể tiến hành bằng hình thức bỏ phiếu kín hoặc biểu quyết giơ tay. Số lượng đại biểu dự hội nghị chi hội, số lượng chi hội phó của chi hội do ban thường vụ cơ sở Hội hướng dẫn.

Chi hội trưởng, chi hội phó phải được ban chấp hành cơ sở Hội ra quyết định công nhận.

9.5– Chi hội họp định kỳ 3 tháng 01 lần, khi cần thiết có thể họp bất thường.

9.6 Nhiệm kỳ của chi hội là hai năm rưỡi. Trường hợp đặc biệt có thể tổ chức sớm hơn hoặc muộn hơn nhưng không quá 6 tháng và phải được ban chấp hành cơ sở Hội đồng ý. Được bầu bổ sung, kiện toàn chi hội trưởng, chi hội phó khi có sự thay đổi về nhân sự.

10. Điều 15: Tổ hội

– Tổ hội là đơn vị dưới chi hội, thành lập trên cơ sở các hội viên có cùng địa giới hành chính, điều kiện lao động, sản xuất, kinh doanh thuận lợi trong việc tham gia sinh hoạt, hoạt động chung của chi hội.

– Nhiệm vụ của tổ hội: Đoàn kết, tập hợp, vận động  hội viên, nông dân; tổ chức cho hội viên, nông dân tham gia sinh hoạt và các hoạt động của Hội theo nghị quyết của chi Hội.

– Quy trình, thủ tục thành lập tổ hội: căn cứ vào điều kiện lao động, sản xuất, kinh doanh hoặc địa bàn hội viên sinh sống, chi Hội thảo luận, thống nhất thành lập tổ hội và đề nghị lên ban thường vụ cơ sở Hội công nhận.

– Tổ hội có tổ trưởng và tổ phó do hội viên bầu ra. Tổ hội họp mỗi tháng một lần.

11. Điều 17: Công tác kiểm tra

Thực hiện theo Quy định về công tác kiểm tra, giám sát của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

12. Điều 19: Khen thưởng

Thực hiện theo quy định thi đua, khen thưởng của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

13. Điều 20: Kỷ luật

Thực hiện theo quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

14. Điều 21: Tài chính của Hội

Thực hiện theo quy định của Nhà nước và quy định của Ban Thường vụ Trung ương Hội.

Hướng dẫn này được phổ biến trong toàn hệ thống Hội để thống nhất thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề gì chưa phù hợp các cấp Hội đề xuất, phản ánh về Trung ương Hội. Ban Chấp hành giao Ban Thường vụ Trung ương Hội xem xét sửa đổi, hướng dẫn bổ sung.

 

 download

T/M BAN CHẤP HÀNH   

CHỦ TỊCH

Nơi nhận:

– Các đ/c Uỷ viên BCH TW Hội;

– Các tỉnh, thành Hội

– Các ban, đơn vị TW Hội                                                       Đã ký

– Lưu VP, BTC.                                                             Nguyễn Quốc Cường